Thứ Bảy, ngày 01 tháng 1 năm 1972

Những cuộc phiêu lưu của Tom Shawyer - Chương 6 - Mark Twain - Văn học nước ngoài

Thông tin truyện

Những cuộc phiêu lưu của Tom Shawyer Chương 6 : Ba tên hải tặc
Tác giả : Mark Twain
Quốc gia : Mỹ Thể loại : Văn học nước ngoài Số chương : 12  Người dịch : đang cập nhật
Đọc truyện

Serve 1

Lần này, Tom đã nhất quyết. Vì chẳng ai quan tâm đến nó, nó sẽ ra đi và sẽ theo nghề đạo tặc. Nó tỏ ra cao thượng, tha thứ cho những ai đã gây ra nỗi bất hạnh cho nó nhưng sẽ không đổi ý.  Trên đường đi, nó gặp tên bạn cố tri Joe Harper cũng đang rầu rĩ không kém: nó vừa bị mẹ đánh đòn vì đã nuốt hết một tô kem, tô kem mà cam đoan là nó không hề đụng đến. Chẳng nghi ngờ gì nữa, đó là một cái cớ để đuổi nó đi cho rảnh. Nó cầu mong mẹ nó hạnh phúc sung sướng khi không có nó và không hối tiếc vì sự cứng rắn của bà khi đã quá trễ.. Hai kẻ không được đời hiểu thề giữ tình bạn keo sơn và quyết định gắn liền hai số phận bi đát với nhau, trong khi chờ đợi cái chết giải thoát gánh nặng của cuộc sống.  Joe sẵn sàng tính đến chuyện làm người ẩn tu, sống trong hang bằng những mẩu bánh vụn.cất giữ lâu ngày cho đến khi chết vì đói, lạnh và tuyệt vọng. Nhưng Tom nêu rõ cho nó thấy những ưu điểm của cuộc đời cướp biển và nó đã không mấy ngần ngại từ bỏ các dự tính kia. Hai đứa chợt nghĩ đến chuyện mời bạn Huck chia xẻ cuộc đời mới mẻ và phiêu lưu của chúng: thằng bé lang thang không đòi hỏi gì hơn là được nhập bọn với chúng.  Cách làng mười lăm cây số về phía hạ lưu, tại một chỗ sông Mississipi đặc biệt rất rộng, có một cù lao nhiều cây cối và không có người ở, gọi là cù lao Jacson. Một bãi cát nổi cho phép đi đến đó dễ dàng. Vậy đây là một sào huyệt lý tưởng cho bọn hải tặc. Ba kẻ đồng mưu hẹn gặp lại nhau khi trời vừa tối ở phía thượng lưu của đảo, đem theo lưỡi câu, cần câu và lương thực nếu có thể. Một chiếc bè tấp gần bờ sẽ đưa chúng đến sào huyệt.  Thế là khoảng nửa đêm, Tom đến chỗ hẹn với khúc thịt muối to tướng và một vài món đồ ăn lặt vặt. Có tiếng hỏi nhỏ:  - Ai đó?  - Tom Sawyer, Hiệp sĩ Hắc Y Báo Oán vùng biển Antilles. Còn các ngươi?  - Finn, Bàn tay Đỏ và Joe Harper, Hung thần của Đại dương. Mật khẩu?  - Không tha mạng. Hung thần của đại dương đã "cướp" được một khúc thịt mỡ xông khói thật to, và Finn - Bàn tay Đỏ đã đem theo một cái chảo rán, một số lá thuốc hút và lõi bắp để làm ống vố. Hiệp sĩ Hắc y Báo oán tuyên bố là chúng không thể lên tàu trước khi kiếm được đồ nhóm lửa. Thấy một lò than vừa mới tàn, ba người bạn chộp lấy một khúc củi to và vài cành nhỏ rồi nhảy lên bè.  Joe chèo mũi và Huck chèo lái. Tom chỉ huy. Trong thâm tâm, nó khoan khoái nhẩm đi nhẩm lại rất nhiều ý tưởng thú vị: "Chà! Ước chi "nàng" thấy được nó đang chỉ huy con tàu, coi thường sóng gió, đương đầu với hiểm nguy, tinh thần thanh thản và quả tim gan dạ, nụ cười khinh bạc trên môi". Khoảng hai giờ sáng, chiếc bè tấp vào trên doi cát gần mũi đất của cù lao. Ba tên hải tặc lên bờ. Trên bè chúng đã tìm thấy một mảnh buồm cũ và chúng lấy nó để che phủ lương thực quý giá chúng mang theo. Nỗi bận tâm trước nhất của chúng là nhóm lên một bếp lửa lớn ở bìa rừng và rán một miếng mỡ trên chảo. Trong.niềm vui của bữa tiệc ngẫu nhiên này, xa cách nền văn minh và những trói buộc của nó, ba chàng tuổi nhỏ tự khen mình về quyết định dứt khoát đoạn tuyệt với thế giới. - Đời đẹp quá, các bạn ơi! Không phải thức dậy lúc sáng sớm, không đi học, không phải tắm rửa, không phải nghe eo sèo ở bàn ăn, không mầu mè kiểu cách. Tom tổng kết với vẻ ngây ngất khoái trá. Rồi quay sang Joe, nó nói tiếp: - Thấy không Joe! Làm hải tặc hay hơn nhiều so với làm tu sĩ ẩn dật. Làm ẩn tu, cậu phải cầu nguyện suốt ngày rồi còn ăn chay nhịn đói, mặc áo quần vải gai và hành xác, đủ bao nhiêu thứ!... Còn chúng ta, khi làm hải tặc, chúng ta mặc quần áo lộng lẫy, đeo vàng đầy người và trang sức bằng đá quý. Ngoài ra, hải tặc được mọi người kính nể, trong khi các vị ẩn tu, tin tớ đi, thì hơi lỗi thời rồi. Joe sẵn sàng đồng ý.  Trong khi hai đứa chuyện trò lên tinh thần như thế, Huck đã khoét một cái lõi bắp và nhồi thuốc lá rồi gắn một khúc sậy làm đầu cán và bây giờ nó rít mấy hơi dài, nhả khói thơm phức với sự khoái trá ra mặt.  Hai đứa kia thèm lác mắt trước cái tật xấu rất oai đó và tự hứa sẽ sớm có ngày thử một lần cho biết.  Sau đó, ba chàng trẻ tuổi phiêu lưu bắt đầu cảm thấy mệt. Huck là người đầu tiên thiếp đi như chết. Hai đứa kia khó ngủ hơn vì trong tâm trí chúng đã bắt đầu dấy lên những điều ăn năn hối hận. Biến mất đi như thế mà không báo trước chẳng phải là chúng đã làm một việc sai quấy sao? Liệu người ta không cảm thấy lo hay sao? Còn miếng thịt mà chúng đã ăn cắp này nữa chứ, vì đó không phải là một việc ăn cắp vặt như khi người ta xoáy kẹo mứt...  Hai đứa sẵn sàng bỏ qua việc tự vấn lương tâm hàng ngày cũng như việc đọc Kinh buổi tối, nhưng chúng sợ thái độ tùy tiện với ông trời như thế sẽ gây ra một tai họa ghê gớm. Hôm sau, Tom mở mắt trước nhất. Trời đã sáng; một cảm giác yên bình và thanh thản tuyệt thú tỏa ra từ khu rừng tĩnh mịch. Rồi làn sương mù buổi sáng dần dần tan và thiên nhiên tỉnh giấc trước con mắt ngỡ ngàng, thán phục của Tom. Chẳng mấy chốc, vạn vật bắt đầu rung rinh xao động. Trên một chiếc lá còn đọng sương mai, Tom trông thấy một con sâu nhỏ màu xanh biếc. Nó có vẻ lưỡng lự chưa biết chọn hướng nào. Sau khi suy nghĩ kỹ, nó quyết định bò lên đùi Tom.làm thằng bé vui mừng khôn xiết: chắc chắn đó là một điềm may, báo trước những ngày sung sướng ở lại trên đảo. Tom cũng còn tiếp một đàn kiến ghé thăm trên đường chúng đi lao động, một con bọ rùa màu vàng, một con bọ hung, một con sóc xám và sau cùng là một chú cáo con. Họa mi, gõ kiến, chim cưỡng và bướm đang làm rung rinh tàn lá chung quanh chỗ Tom.  Tom lay hai tên hải tặc kia. Chúng đứng phóc dậy hò reo sảng khoái. Cả ba đứa cởi quần áo trong nháy mắt và chạy ùa về phía bãi cát trắng. Chiếc bè của chúng đã bị dòng nước cuốn trôi nhưng điều đó chỉ làm chúng vui mừng thêm.  Tắm xong, cảm thấy thèm ăn, chúng trở lại trại và khêu bếp lửa lên. Để có đồ ăn sáng, chúng quyết định thử đi câu cá và bắt được khẳm tay, chỉ trong nháy mắt chúng đã bắt nào là cá mang giổ, cá dầy, cá măng và chúng đem chiên ngon lành. Cách đó không xa, Huck khám phá ra một con suối. Ba thằng bé múc nước đựng trong những chiếc lá quấn lại như loa kèn rồi yên lặng ngồi uống, rất vui với tài khéo léo của mình.  Buổi chiều là thời gian đi tìm hiểu giang sơn của chúng. Đảo dài khoảng bốn hay năm cây số, rộng độ bốn trăm thước. Mãi đến chiều tối, chúng mới trở về chỗ cắm trại. Tại đây, chúng thanh toán khúc thịt muối của Tom rồi ngồi thoải mái tán gẫu. Dần dần, câu chuyện hóa ra uể oải và nỗi nhớ nhà bắt đầu xâm chiếm tâm trí ba đứa bé nhưng không đứa nào dám thú nhận.  Bỗng một tiếng nổ vang lên ở đằng xa khuấy động cảnh im lặng. Tiếp theo là tiếng nổ thứ hai.  - Cái gì vậy? Joe hỏi nhỏ.  - Tớ cũng tự hỏi như vậy. Tom trả lời cùng một giọng.  Ba đứa bé đứng lên, đi về phía bờ sông đối diện với làng. Cách đó khoảng hai cây số, chiếc tàu hơi nước nhỏ đảm nhiệm việc qua lại trên con sông đang thả trôi theo dòng nước. Trên boong đen đặc những người. Nhiều thuyền nhỏ vây quanh con tàu, thuyền chèo có, thuyền buồm có. Liền sau đó, một chùm khói trắng bốc lên từ chiếc tàu và vang lên một tiếng nổ thứ ba.  - Phải rồi, tớ hiểu ra rồi!... Tom kêu lên... Họ đang kiếm một kẻ chết đuối...  - Ừ, đúng đó. Năm ngoái họ cũng làm như vậy khi Bill Turner chết đuối. Người ta bắn một.phát đại bác trên mặt nước, hình như làm thế thì cái xác sẽ nổi lên. - Chà, nếu ở được bên kia thì tớ khoái quá! Joe nói reo lên.  - Tớ cũng vậy... Huck nói... Để thấy được ai là kẻ chết đuối lần này, thì mất gì tớ cũng không tiếc.  Bỗng Tom vỗ lên trán, như được ơn trên soi sáng.  - Ồ, tớ biết rồi các cậu ơi! Những kẻ chết đuối là bọn mình đấy! - Thế thì ghê thật! Huck bình luận, phát biểu cảm giác chung sau cùng của cả ba đứa.  Dần dần, chúng cảm thấy mình quan trọng. Chúng đã mất tích, người ta đang khóc chúng như khóc những anh hùng tử trận. Chắc chắn người ta đã đổ nước mắt cho số phận bi đát, cho cuộc đời tuổi trẻ ngắn ngủi của chúng. Có lẽ, thậm chí một vài người còn tự trách mình đã quá nghiêm khắc với chúng... Cả làng nói về chúng, mỗi người có một giai thoại để kể, bạn bè chúng đã ghen tị đến tái mặt trước cảnh mọi người thương mến chúng như thế... Như vậy cũng tuyệt vời lắm! Sự đầy ải của chúng đã không vô ích.  Lúc màn đêm buông xuống, chiếc tàu hơi nước tiếp tục lại làm công việc đều đặn của nó và các thuyền bè giải tán. Các kẻ bị chết đuối bèn trở về trại vẫn còn mang ấn tượng sâu đậm và cảm xúc mạnh về công lao khó nhọc họ đã bỏ ra để lo cho chúng.  Chúng lẳng lặng lấy cần câu để câu cá cho bữa ăn tối. Nghĩ đến nỗi đau buồn và tuyệt vọng của bà con và bằng hữu, chúng cảm thấy lòng kiêu hãnh của chúng được mơn trớn vuốt ve.  Sau khi ăn xong, chúng không nói gì, nhìn ngọn lửa, mỗi đứa triền miên theo đuổi ý nghĩ riêng. Nhưng lần này, sự háo hức ban đầu đã qua. Sự giày vò, hối hận dấy lên trong lòng Tom và Joe, hai đứa dễ dàng tưởng tượng ra sự không vui của một số người mà chúng yêu mến. Bất giác chúng buông mấy tiếng thở dài.  Không kìm lòng được nữa, Joe muốn thăm dò tình thế bèn gợi ra ý kiến có thể trở về với văn minh, lẽ tất nhiên không phải liền bây giờ, nhưng... Tom nhất định không nghe và chế nhạo sự hèn nhát của bạn, gọi bạn nó là con gà ướt. Huck cũng theo ý kiến đó. Khi Joe và Huck đã ngủ say, Tom rón rén ngồi dậy. Qua ánh than hồng, nó đưa mắt nhìn quanh và cúi xuống nhặt lên hai mảnh vỏ cây sung. Nó lấy phấn đỏ viết mấy chữ lên mỗi mảnh rồi đút mảnh thứ nhất vào túi áo vét của mình và đặt mảnh kia vào chiếc mũ của Huck. Cùng vài món vặt vãnh quý giá đối với một đứa học trò: một cục phấn, một quả bóng cao su, ba lưỡi câu và một viên bi thủy tinh. Rồi nó bỏ đi về hướng doi cát... Vài giây lát sau, Tom đi xuống sông, lội qua chỗ cạn qua bờ đối diện. Gặp chỗ dòng sông chảy quá xiết, Tom nhào xuống nước và bắt đầu bơi mạnh. Sau đó, nó thả mình trôi đến một chỗ ở đó nó có thể leo lên bờ.  Vào khoảng mười giờ nó về đến làng. Theo những lối quanh để yên tâm không gặp ai cả, nó đi đến nhà bà dì nó, vượt qua hàng rào và đứng gần cửa sổ ở tầng trệt còn sáng đèn. Trong căn phòng lớn có dì Polly, Sid, Mary và bà mẹ của Joe đang ngồi nói chuyện. Tom cẩn thận tiến đến gần cửa ra vào, đẩy nhẹ cửa ra rồi bò vào phòng mà không ai thấy. Nó nấp sau một ghế bành lớn.  - Sao nến chập chờn vậy?... Dì Polly hỏi... Coi kìa, hình như cái cửa tự mở ra đấy! Sid đến đóng lại đi con.  Bấy giờ cuộc trò chuyện lại tiếp tục, nghe thật mủi lòng:  - Thằng bé chẳng phải là đứa trẻ hư hỏng đâu, hoàn toàn ngược lại. Tinh nghịch, khinh suất, ma mãnh, quả là có thực, nhưng không hề độc ác, một tấm lòng vàng... Nó không có ác ý khi chọc ghẹo tôi.  - Giống hệt như thằng Joe tội nghiệp nhà tôi... Bà Harper ngắt lời... Luôn luôn sẵn sàng làm những trò rồ dại, nhưng độc ác thì chẳng hề có chút mảy may. Vậy mà tôi đã quất nó về tội ăn tô kem mà chính tôi đã đổ bỏ vì nó đã trở mùi chua! Không bao giờ tôi tha thứ mình chuyện đó!  Thế rồi bà òa khóc nức nở.  - Cháu cầu mong anh Tom sung sướng ở chỗ ở hiện nay... Sid bèn nói với giọng nghiêm trang... Nhưng giá mà anh đã ngoan ngoãn...  - Sid! Không được nói động một tiếng đến thằng Tom thân yêu của ta! Trong hoàn cảnh như vầy, sao cháu nói vậy được? Đừng sợ, Chúa sẽ lo cho nó vì nó xứng đáng được như thế. Ôi, bà Harper ơi, mất nó rồi biết bao giờ tôi khuây khỏa được. Quả thật nó đã nhiều lần làm tôi điên tiết nhưng nó biết hối lỗi rất chân thành! - Chúa nhân từ đã cho rồi lấy lại, xin vinh danh Ngài. Nhưng quả thật thế này thì đau lòng quá. Nói để bà hay, chỉ mới thứ bảy vừa rồi, thằng Joe đã đốt một quả pháo dưới tai tôi. Tôi đã bớp vào đầu nó một cái nên thân. Nếu bây giờ nó làm lại chuyện đó, hẳn tôi sẽ ôm hôn nó bà ạ!  - Còn tôi, khi tôi nghĩ tôi đã đánh thằng Tommie nhà tôi, chỉ vì nó đã cho con mèo uống một muỗng thuốc rượu bé tí tẹo... Như vậy, những lời nói cuối cùng nó nghe ở trần gian này lại là những lời trách cứ la rầy, tội nghiệp thằng nhỏ. Nhưng thôi, tại phương trời nó đang ở, nó không còn đau khổ nữa, thật tình phải nói như thế.  Lúc này, Tom khóc cũng không kém gì so với cả ba người, dì Polly, Mary và bà Harper họp lại, cảm tưởng cuộc đời ngắn ngủi của nó và sự thiếu cảm thông nó gánh chịu bấy lâu nay. Phải nhận rằng nỗi buồn phiền và lòng khoan dung của bà dì tốt bụng cũng làm nó cảm động và nó phải tự kiềm chế để khỏi phóng ra khỏi chỗ nấp, ôm lấy cổ bà mà an ủi. Tiếp tục lắng nghe, Tom còn biết thêm rằng, nếu đêm thứ bảy, các cuộc tìm kiếm vẫn không kết quả thì sáng chủ nhật người ta sẽ cử hành tang lễ. Tom cảm thấy lạnh xương sống và cổ họng như tắc nghẹn lại.  Đến đây, bà Harper đứng lên từ giã dì Polly ra về. Hai người phụ nữ ôm choàng lấy nhau. Sid sụt sịt mấy tiếng và Mary thì khóc mùi mẫn, hai đứa lên lầu đi ngủ. Còn lại một mình, dì Polly quỳ gối cầu nguyện cho Tom được cứu rỗi, giọng già nua run run, tràn đầy âu yếm và đau khổ làm Tom cảm thấy lòng bùi ngùi vô hạn.  Thế rồi, bà đi ngủ. Tom nghe bà rên rỉ, thở dài, nằm lăn qua trở lại trên giường cho đến lúc giấc ngủ thương hại bà và ban cho bà ân huệ được lãng quên. Bấy giờ, Tom lẻn bò ra khỏi chỗ nấp và đến gần bên bà dì đang ngủ, ngắm nhìn âu yếm khuôn mặt tiều tụy, tội nghiệp của bà. Nó bèn rút trong túi ra mảnh vỏ cây mang tin tức chắc thể nào cũng làm bà yên lòng. Nhưng bỗng trong đầu óc phong phú của nó lại nảy ra một ý khác, một ý nghĩ rất tuyệt vời, vô cùng kinh ngạc! Nó vội vàng bỏ mảnh vỏ cây vào túi lại, đặt một nụ hôn âu yếm lên gò má nhăn nheo của dì nó, lặng lẽ.bước ra và trở lại đảo như lúc nó bỏ đi. Đêm đã gần tàn.  Khi về lại nơi đóng trại vào lúc rạng sáng, nó nghe Joe nói:  - Không đâu, Huck ạ! Tom là đứa trung nghĩa, nó sẽ trở lại, chứ không phải nó đào ngũ đâu. Vả lại, đối với một hải tặc làm vậy thì nhục nhã quá!  - Dầu sao, những gì nó đã để lại trong mũ của cậu là của chúng ta, phải không?  - Chưa, nó viết là cái đó sẽ thuộc về chúng ta nếu nó không trở lại vào giờ ăn sáng... Hãy kiên nhẫn!  Tom chọn ngay lúc đó để xuất hiện.  - Cúc cu! Tớ trở lại rồi đây. Đố ai đoán được đêm qua tớ ở đâu? Bị Huck và Joe thúc giục, Tom kể tỉ mỉ chuyến đi của nó. Joe rất cảm động vì được thương tiếc nhiều đến thế.  Buổi chiều, mỗi đứa trang bị một cây gậy đi tìm trứng rùa. Chỗ nào cây gậy cắm xuống đất dễ dàng là chúng quỳ xuống đào bới và thường bắt gặp khoảng năm mươi cái trứng to bằng hạt hồ đào. Khi nóng quá, chúng chạy ào ngã mình xuống nước. Chúng đầm mình khoái trá, ôm nhau cười và thả mình cho dòng nước cuốn đi một đoạn ngắn, pha trò đùa giỡn. Khi đã mệt, chúng ngã mình xuống bãi cát nóng lăn lộn thỏa thích. Sau đó, chúng chơi bi, kể chuyện bông đùa và say sưa chơi đủ thứ trò giải trí.  Rồi đến lúc sự vui chơi nhường chỗ cho sự mơ mộng và buồn bã lúc nào không hay. Tom không thể không nghĩ đến Becky. Nó vạch tên cô bé lên cát, rồi xóa rất nhanh để viết lại liền, Joe thở dài rưng rưng nước mắt: nó thấy nhớ nhà ghê gớm và không thể có ý nghĩ xa gia đình mãi mãi. Ngay Huck cũng không vui và đâm ra tiếc cái thùng phuy hoặc vựa lúa nó dùng làm nơi trú ẩn. Để đánh tan cảm giác chán nản và quạnh hiu thình lình tràn ngập trong lòng ba đứa, Tom cất giọng vui tươi: - Này các cậu, nếu có một kho tàng cất giấu trên đảo, bọn mình đi tìm nó chẳng phải là một ý tuyệt vời ư?  Nhưng lời đề nghị của nó không được hưởng ứng.  Cuối cùng Joe nói bằng giọng buồn rầu: - Tớ đề nghị nên chấm dứt trò này đi. Tớ ngán rồi, tớ muốn về nhà. Ở đây bọn mình lẻ loi quá, kéo dài chịu hết nổi.  - Joe à, cậu hãy nghĩ đến những buổi đi câu đang chờ chúng ta trước mắt chẳng thú vị sao?  - Tớ chẳng thiết gì đến chuyện đó nữa. Tớ muốn về nhà.  - Còn vụ đi tắm thì sao? Cậu biết chỗ nào tắm tốt hơn ở đây không hả?  - Bơi, bơi... Suốt ngày bơi lội tớ chán lắm rồi.  - Em bé muốn bám váy mẹ rồi phải không nào?  - Đúng, tớ muốn về cho mẹ tớ yên lòng. Các cậu không biết thế là thế nào đâu. Các cậu đâu còn mẹ!  - Thế thì được, em bé trở về nhà với mẹ. Thế mà cũng đòi làm hải tặc! Còn chúng ta là đàn ông, chúng ta sẽ ở lại đây, đúng không hở Huck?  Huck ừ ừ trong miệng, xem như đồng ý.  Không một tiếng giã từ, Joe đứng lên, đi về phía doi cát. Tom cảm thấy bị phản bội, lòng nó se lại. Sau vài giây, đến lượt Huck đứng lên.  - Tớ cũng vậy, tớ muốn đi. Cuộc đi trốn của bọn ta kéo dài đã đủ rồi. Ở đây vắng vẻ quá, nếu gặp tai nạn, ta biết làm sao?  - Hai đứa bây đi đi, đồ lũ gà ướt. Còn tớ, tớ ở lại. Tớ không ngán.  - Tom ạ, tớ bảo thật với cậu, cậu cũng nên về là hay hơn. Cậu chớ cứng đầu! Nào về đi!  - Không bao giờ!  Huck thở dài rồi đi theo Joe.  Tom tin tưởng sự cương quyết của nó sẽ làm hai đứa kia suy nghĩ và đổi ý vì quá xấu hổ. Nhưng khi thấy không được gì, Tom quyết định đánh đòn quyết liệt và đưa ra con bài tẩy. Vừa chạy theo, nó vừa la ơi ới:  - Khoan đã, các cậu! Tớ nói chưa hết!  Hai đứa kia dừng phắt lại. Tom báo cho chúng một tin làm chúng trở lại vui vẻ và hăng hái:  - Mê ly quá! Tuyệt cú mèo! Vậy sao cậu giấu bọn tớ? Nếu vậy thì bọn tớ đâu có bỏ đi!  Ba đứa trẻ vui vẻ trở lại nơi đóng trại. Ngoài sự kích thích của cái tin bí mật, chúng còn được nhẹ lòng vì có thể chấm dứt sự bất hòa đột xuất và làm lành với nhau. Bữa ăn rất vui, gồm có trứng rùa và cá.  Sau đó, Tom tỏ ý muốn tập hút thuốc lá, dĩ nhiên là Joe cũng hùa theo. Huck khoét hai cái ống vố và nhồi thuốc. Nằm dài ra đất, ba đứa trẻ bắt đầu rít những hơi dài. Hai kẻ mới lần đầu hút thuốc không nén được ho và hơi xanh mặt.  - Gớm, hút thuốc đâu có khó gì lắm. Hít.. hà! Giá tớ biết, tớ đã hút sớm rồi, hít... hà! Tom nói.  - Tớ cũng vậy... Joe tiếp lời... Từ lúc hít... hà... tớ bắt đầu muốn.  - Còn tớ, tớ đã cho cậu biết... bao nhiêu lần về cái ý thích này rồi, phải không nào?  - Tớ thấy tớ có thể hút suốt ngày... Hít... hà... Tớ chẳng thấy buồn nôn chút nào cả. - Này, tớ muốn thấy tụi bạn của mình hút xem thử sao! Tớ đoan chắc... hít... hà... bọn chúng hút một hơi đầu là quay mòng mòng ngay thôi!  - Chắc vậy rồi! Và khi bọn ta nói cho chúng biết... hít... hà... bọn ta đã tập hút thuốc khi làm hải tặc, chúng nó sẽ hối hận không đi theo bọn ta cho mà xem!  Câu chuyện về đề tài này tiếp tục chỉ được một lúc, sau đó tắt nghỉm. Hai kẻ mới tập tành lúc này đã hơi xanh mặt và không ngăn được nôn ọe. Không chịu nổi được nữa, Joe đứng dậy, hai chân lảo đảo. - Tớ nghĩ... tớ đã đánh mất con dao nhíp của tớ. Tớ đi... tìm nó mới được. Nó cất tiếng yếu ớt.  - Chờ chút, tớ sẽ... giúp cậu... Tom thều thào nói... Cậu chỉ việc đi ngả kia, còn tớ... đi ngả này... Huck đừng bận tâm,... cậu không đi cũng được!  Và hai đứa khốn khổ đi tìm chỗ riêng để giải uế.  Buổi tối, sau khi ăn xong, Huck nhồi tẩu của mình và ngỏ ý chuẩn bị hai tẩu khác. Joe và Tom lịch sự từ chối viện lý do cảm thấy đầy bụng và không được khỏe lắm.  Khoảng nửa đêm, Joe thức giấc. Không khí nặng nề khó thở. Nó khẽ đánh thức hai bạn dậy.  Và tiếp theo một ánh sáng chợt lóe làm tàn lá cây hiện rõ trong giây lát; rồi ánh sáng thứ hai, ánh sáng thứ ba lóe mạnh hơn. Gió mát nhẹ nổi lên. Lần này, một ánh chớp chói lọi soi cảnh vật rõ mồn một, trong khi một tiếng sấm làm điếc tai các đứa bé đang hoảng hốt. Bây giờ gió lạnh thổi tới làm lá vàng rụng bay tơi tả và tro bếp tung tóe. Một tia chớp nữa ngoằn ngoèo xẹt qua bầu trời trong khi một tiếng động răng rắc nổi lên phía trên đầu, bọn trẻ lâm nạn chết điếng người vì kinh hoàng. Thiên nhiên nổi cơn cuồng nộ.  Khi các giọt nước đầu tiên bắt đầu rơi xuống, Tom bình tĩnh lại và hét lớn:  - Nhanh lên, chạy về lều!  Bây giờ chớp lóe liên hồi, sấm vang không ngớt. Gió thổi từng cơn dữ dội, mưa như thác đổ ập xuống khu rừng đang rung chuyển tận gốc rễ. Chúng chạy vấp lên rễ cây, vướng vào dây leo, lảo đảo va vào đó, cuối cùng chúng đến được tấm vải buồm căng thành lều che đậy lương thực, đứt hết cả hơi, ướt như chuột lột và run cầm cập. Bão thổi mạnh hơn nữa. Những tiếng sấm kinh hồn xé tai nhức óc. Hòn đảo tưởng chừng như rũ ra, sắp bị chìm vào dòng sông. Gió quật tung tấm buồm và bọn trẻ hoảng sợ bám vào nhau rồi cuối cùng tìm được chỗ trú dưới một cây sồi lớn gần bên sông. Đêm ác mộng tưởng chừng như không bao giờ chấm dứt.  Sau đó, dần dần gió giảm nhẹ và chớp thưa bớt. Giông bão lắng dịu và thanh bình trở lại với cảnh vật xác xơ. Vẫn còn run lẩy bẩy, chân đi loạng choạng chưa kể đến những vết đứt, vết trầy và bầm tím làm chúng đau điếng, bọn trẻ gặp nạn trở về chỗ dựng trại. Cây sung to trước đó chúng ngủ vô tư dưới gốc bây giờ đã bị sét đánh,.nằm sóng soài trên mặt đất.  Ưu tiên số một bây giờ là nhóm lại bếp lửa, mà nhờ nằm khuất dưới một gốc cây tán lá dày rậm, vẫn còn âm ỉ dưới lớp tro. Bọn trẻ lạnh cóng, áo quần nước chảy ròng ròng. Răng đánh cầm cập, bọn chúng đi kiếm những cành nhỏ và vỏ cây ít nhiều khô ráo. Sau một giờ tìm kiếm kiên nhẫn, chúng nhóm lại được bếp lửa, khiến tinh thần sa sút của chúng vững hơn lên rất nhiều. Chúng hong khô và nướng phần thịt muối còn lại, ăn ngon lành và ngồi nói chuyện cho đến sáng, bởi vì mặt đất ướt đẫm không cách gì ngả lưng được.  Cuối cùng, tảng sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên vờn trên gò má của chúng, bọn trẻ mệt lả nằm dài trên doi cát đánh vùi một giấc.  Giữa trưa trời nắng nóng, lúc đó chúng mới thức dậy. Tê cóng, ê ẩm cả người và da thịt đau rát, chúng đờ đẫn và rũ rượi. Nỗi nhớ nhà lại bắt đầu chớm dậy. Để làm các bạn khuây khỏa, Tom nhắc chúng hạnh vận đang chờ chúng nếu chúng kiên trì cho đến ngày chủ nhật và đề nghị làm dân da đỏ thay cho hải tặc. Chúng vui vẻ với ý tưởng đó: sau khi cởi quần áo, chúng bôi bùn vằn vện khắp mình rồi đi tấn công ngay trại của người da trắng. Kể đến, đóng vai các bộ tộc thù địch, chúng xông vào nhau, la hét man dại, xẻo da cấu thịt nhau, lột đầu, giết nhau bằng thích.  Buổi chiều tàn sát đó để lại cho chúng một kỷ niệm rất đáng nhớ. Chỉ có tẩu thuốc hút chung giữa hai thủ lãnh để ký kết một nền hòa bình vững bền là thứ làm hai đứa trong bọn chúng nấn ná thấy ngại. Nhưng rồi, lần này xem ra đã quen, chúng chuyền tẩu cho nhau hút phì phèo, không quên trò chuyện khoác lác.  Chúng đã trở thành những kẻ đàn ông, đàn ông thực sự! Ghê gớm thật!.
Hết chương 5
Hết : Chương 6 - Xem tiếp : Chương 7
Chọn chương để xem
Chương : Lời tác giả 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12

Serve 1

Lần này, Tom đã nhất quyết. Vì chẳng ai quan tâm đến nó, nó sẽ ra đi và sẽ theo nghề đạo tặc. Nó tỏ ra cao thượng, tha thứ cho những ai đã gây ra nỗi bất hạnh cho nó nhưng sẽ không đổi ý. 
Trên đường đi, nó gặp tên bạn cố tri Joe Harper cũng đang rầu rĩ không kém: nó vừa bị mẹ đánh đòn vì đã nuốt hết một tô kem, tô kem mà cam đoan là nó không hề đụng đến.
Chẳng nghi ngờ gì nữa, đó là một cái cớ để đuổi nó đi cho rảnh. Nó cầu mong mẹ nó hạnh phúc sung sướng khi không có nó và không hối tiếc vì sự cứng rắn của bà khi đã quá trễ.. Hai kẻ không được đời hiểu thề giữ tình bạn keo sơn và quyết định gắn liền hai số phận bi đát với nhau, trong khi chờ đợi cái chết giải thoát gánh nặng của cuộc sống. 

Joe sẵn sàng tính đến chuyện làm người ẩn tu, sống trong hang bằng những mẩu bánh vụn.cất giữ lâu ngày cho đến khi chết vì đói, lạnh và tuyệt vọng. Nhưng Tom nêu rõ cho nó thấy những ưu điểm của cuộc đời cướp biển và nó đã không mấy ngần ngại từ bỏ các dự tính kia. Hai đứa chợt nghĩ đến chuyện mời bạn Huck chia xẻ cuộc đời mới mẻ và phiêu lưu của chúng: thằng bé lang thang không đòi hỏi gì hơn là được nhập bọn với chúng. 
Cách làng mười lăm cây số về phía hạ lưu, tại một chỗ sông Mississipi đặc biệt rất rộng, có một cù lao nhiều cây cối và không có người ở, gọi là cù lao Jacson. Một bãi cát nổi cho phép đi đến đó dễ dàng. Vậy đây là một sào huyệt lý tưởng cho bọn hải tặc. Ba kẻ đồng mưu hẹn gặp lại nhau khi trời vừa tối ở phía thượng lưu của đảo, đem theo lưỡi câu, cần câu và lương thực nếu có thể. Một chiếc bè tấp gần bờ sẽ đưa chúng đến sào huyệt. 
Thế là khoảng nửa đêm, Tom đến chỗ hẹn với khúc thịt muối to tướng và một vài món đồ ăn lặt vặt. Có tiếng hỏi nhỏ: 
- Ai đó? 
- Tom Sawyer, Hiệp sĩ Hắc Y Báo Oán vùng biển Antilles. Còn các ngươi? 
- Finn, Bàn tay Đỏ và Joe Harper, Hung thần của Đại dương. Mật khẩu? 
- Không tha mạng.
Hung thần của đại dương đã "cướp" được một khúc thịt mỡ xông khói thật to, và Finn - Bàn tay Đỏ đã đem theo một cái chảo rán, một số lá thuốc hút và lõi bắp để làm ống vố. Hiệp sĩ Hắc y Báo oán tuyên bố là chúng không thể lên tàu trước khi kiếm được đồ nhóm lửa. Thấy một lò than vừa mới tàn, ba người bạn chộp lấy một khúc củi to và vài cành nhỏ rồi nhảy lên bè. 
Joe chèo mũi và Huck chèo lái. Tom chỉ huy.
Trong thâm tâm, nó khoan khoái nhẩm đi nhẩm lại rất nhiều ý tưởng thú vị: "Chà! Ước chi "nàng" thấy được nó đang chỉ huy con tàu, coi thường sóng gió, đương đầu với hiểm nguy, tinh thần thanh thản và quả tim gan dạ, nụ cười khinh bạc trên môi".

Khoảng hai giờ sáng, chiếc bè tấp vào trên doi cát gần mũi đất của cù lao. Ba tên hải tặc lên bờ. Trên bè chúng đã tìm thấy một mảnh buồm cũ và chúng lấy nó để che phủ lương thực quý giá chúng mang theo. Nỗi bận tâm trước nhất của chúng là nhóm lên một bếp lửa lớn ở bìa rừng và rán một miếng mỡ trên chảo. Trong.niềm vui của bữa tiệc ngẫu nhiên này, xa cách nền văn minh và những trói buộc của nó, ba chàng tuổi nhỏ tự khen mình về quyết định dứt khoát đoạn tuyệt với thế giới.
- Đời đẹp quá, các bạn ơi! Không phải thức dậy lúc sáng sớm, không đi học, không phải tắm rửa, không phải nghe eo sèo ở bàn ăn, không mầu mè kiểu cách. Tom tổng kết với vẻ ngây ngất khoái trá.
Rồi quay sang Joe, nó nói tiếp:
- Thấy không Joe! Làm hải tặc hay hơn nhiều so với làm tu sĩ ẩn dật. Làm ẩn tu, cậu phải cầu nguyện suốt ngày rồi còn ăn chay nhịn đói, mặc áo quần vải gai và hành xác, đủ bao nhiêu thứ!... Còn chúng ta, khi làm hải tặc, chúng ta mặc quần áo lộng lẫy, đeo vàng đầy người và trang sức bằng đá quý. Ngoài ra, hải tặc được mọi người kính nể, trong khi các vị ẩn tu, tin tớ đi, thì hơi lỗi thời rồi.
Joe sẵn sàng đồng ý. 
Trong khi hai đứa chuyện trò lên tinh thần như thế, Huck đã khoét một cái lõi bắp và nhồi thuốc lá rồi gắn một khúc sậy làm đầu cán và bây giờ nó rít mấy hơi dài, nhả khói thơm phức với sự khoái trá ra mặt. 
Hai đứa kia thèm lác mắt trước cái tật xấu rất oai đó và tự hứa sẽ sớm có ngày thử một lần cho biết. 
Sau đó, ba chàng trẻ tuổi phiêu lưu bắt đầu cảm thấy mệt. Huck là người đầu tiên thiếp đi như chết. Hai đứa kia khó ngủ hơn vì trong tâm trí chúng đã bắt đầu dấy lên những điều ăn năn hối hận.
Biến mất đi như thế mà không báo trước chẳng phải là chúng đã làm một việc sai quấy sao? Liệu người ta không cảm thấy lo hay sao?
Còn miếng thịt mà chúng đã ăn cắp này nữa chứ, vì đó không phải là một việc ăn cắp vặt như khi người ta xoáy kẹo mứt... 

Hai đứa sẵn sàng bỏ qua việc tự vấn lương tâm hàng ngày cũng như việc đọc Kinh buổi tối, nhưng chúng sợ thái độ tùy tiện với ông trời như thế sẽ gây ra một tai họa ghê gớm.
Hôm sau, Tom mở mắt trước nhất. Trời đã sáng; một cảm giác yên bình và thanh thản tuyệt thú tỏa ra từ khu rừng tĩnh mịch. Rồi làn sương mù buổi sáng dần dần tan và thiên nhiên tỉnh giấc trước con mắt ngỡ ngàng, thán phục của Tom. Chẳng mấy chốc, vạn vật bắt đầu rung rinh xao động.
Trên một chiếc lá còn đọng sương mai, Tom trông thấy một con sâu nhỏ màu xanh biếc. Nó có vẻ lưỡng lự chưa biết chọn hướng nào. Sau khi suy nghĩ kỹ, nó quyết định bò lên đùi Tom.làm thằng bé vui mừng khôn xiết: chắc chắn đó là một điềm may, báo trước những ngày sung sướng ở lại trên đảo. Tom cũng còn tiếp một đàn kiến ghé thăm trên đường chúng đi lao động, một con bọ rùa màu vàng, một con bọ hung, một con sóc xám và sau cùng là một chú cáo con. Họa mi, gõ kiến, chim cưỡng và bướm đang làm rung rinh tàn lá chung quanh chỗ Tom. 

Tom lay hai tên hải tặc kia. Chúng đứng phóc dậy hò reo sảng khoái. Cả ba đứa cởi quần áo trong nháy mắt và chạy ùa về phía bãi cát trắng. Chiếc bè của chúng đã bị dòng nước cuốn trôi nhưng điều đó chỉ làm chúng vui mừng thêm. 
Tắm xong, cảm thấy thèm ăn, chúng trở lại trại và khêu bếp lửa lên. Để có đồ ăn sáng, chúng quyết định thử đi câu cá và bắt được khẳm tay, chỉ trong nháy mắt chúng đã bắt nào là cá mang giổ, cá dầy, cá măng và chúng đem chiên ngon lành. Cách đó không xa, Huck khám phá ra một con suối. Ba thằng bé múc nước đựng trong những chiếc lá quấn lại như loa kèn rồi yên lặng ngồi uống, rất vui với tài khéo léo của mình. 
Buổi chiều là thời gian đi tìm hiểu giang sơn của chúng. Đảo dài khoảng bốn hay năm cây số, rộng độ bốn trăm thước. Mãi đến chiều tối, chúng mới trở về chỗ cắm trại. Tại đây, chúng thanh toán khúc thịt muối của Tom rồi ngồi thoải mái tán gẫu. Dần dần, câu chuyện hóa ra uể oải và nỗi nhớ nhà bắt đầu xâm chiếm tâm trí ba đứa bé nhưng không đứa nào dám thú nhận. 
Bỗng một tiếng nổ vang lên ở đằng xa khuấy động cảnh im lặng. Tiếp theo là tiếng nổ thứ hai. 
- Cái gì vậy? Joe hỏi nhỏ. 
- Tớ cũng tự hỏi như vậy. Tom trả lời cùng một giọng. 
Ba đứa bé đứng lên, đi về phía bờ sông đối diện với làng. Cách đó khoảng hai cây số, chiếc tàu hơi nước nhỏ đảm nhiệm việc qua lại trên con sông đang thả trôi theo dòng nước. Trên boong đen đặc những người. Nhiều thuyền nhỏ vây quanh con tàu, thuyền chèo có, thuyền buồm có. Liền sau đó, một chùm khói trắng bốc lên từ chiếc tàu và vang lên một tiếng nổ thứ ba. 
- Phải rồi, tớ hiểu ra rồi!... Tom kêu lên... Họ đang kiếm một kẻ chết đuối... 
- Ừ, đúng đó. Năm ngoái họ cũng làm như vậy khi Bill Turner chết đuối. Người ta bắn một.phát đại bác trên mặt nước, hình như làm thế thì cái xác sẽ nổi lên.
- Chà, nếu ở được bên kia thì tớ khoái quá! Joe nói reo lên. 
- Tớ cũng vậy... Huck nói... Để thấy được ai là kẻ chết đuối lần này, thì mất gì tớ cũng không tiếc. 
Bỗng Tom vỗ lên trán, như được ơn trên soi sáng. 
- Ồ, tớ biết rồi các cậu ơi! Những kẻ chết đuối là bọn mình đấy!
- Thế thì ghê thật! Huck bình luận, phát biểu cảm giác chung sau cùng của cả ba đứa. 
Dần dần, chúng cảm thấy mình quan trọng. Chúng đã mất tích, người ta đang khóc chúng như khóc những anh hùng tử trận. Chắc chắn người ta đã đổ nước mắt cho số phận bi đát, cho cuộc đời tuổi trẻ ngắn ngủi của chúng. Có lẽ, thậm chí một vài người còn tự trách mình đã quá nghiêm khắc với chúng... Cả làng nói về chúng, mỗi người có một giai thoại để kể, bạn bè chúng đã ghen tị đến tái mặt trước cảnh mọi người thương mến chúng như thế... Như vậy cũng tuyệt vời lắm! Sự đầy ải của chúng đã không vô ích. 
Lúc màn đêm buông xuống, chiếc tàu hơi nước tiếp tục lại làm công việc đều đặn của nó và các thuyền bè giải tán. Các kẻ bị chết đuối bèn trở về trại vẫn còn mang ấn tượng sâu đậm và cảm xúc mạnh về công lao khó nhọc họ đã bỏ ra để lo cho chúng. 
Chúng lẳng lặng lấy cần câu để câu cá cho bữa ăn tối. Nghĩ đến nỗi đau buồn và tuyệt vọng của bà con và bằng hữu, chúng cảm thấy lòng kiêu hãnh của chúng được mơn trớn vuốt ve. 
Sau khi ăn xong, chúng không nói gì, nhìn ngọn lửa, mỗi đứa triền miên theo đuổi ý nghĩ riêng.
Nhưng lần này, sự háo hức ban đầu đã qua. Sự giày vò, hối hận dấy lên trong lòng Tom và Joe, hai đứa dễ dàng tưởng tượng ra sự không vui của một số người mà chúng yêu mến. Bất giác chúng buông mấy tiếng thở dài. 

Không kìm lòng được nữa, Joe muốn thăm dò tình thế bèn gợi ra ý kiến có thể trở về với văn minh, lẽ tất nhiên không phải liền bây giờ, nhưng...
Tom nhất định không nghe và chế nhạo sự hèn nhát của bạn, gọi bạn nó là con gà ướt. Huck cũng theo ý kiến đó.



Khi Joe và Huck đã ngủ say, Tom rón rén ngồi dậy. Qua ánh than hồng, nó đưa mắt nhìn quanh và cúi xuống nhặt lên hai mảnh vỏ cây sung. Nó lấy phấn đỏ viết mấy chữ lên mỗi mảnh rồi đút mảnh thứ nhất vào túi áo vét của mình và đặt mảnh kia vào chiếc mũ của Huck. Cùng vài món vặt vãnh quý giá đối với một đứa học trò: một cục phấn, một quả bóng cao su, ba lưỡi câu và một viên bi thủy tinh. Rồi nó bỏ đi về hướng doi cát...
Vài giây lát sau, Tom đi xuống sông, lội qua chỗ cạn qua bờ đối diện. Gặp chỗ dòng sông chảy quá xiết, Tom nhào xuống nước và bắt đầu bơi mạnh. Sau đó, nó thả mình trôi đến một chỗ ở đó nó có thể leo lên bờ. 
Vào khoảng mười giờ nó về đến làng. Theo những lối quanh để yên tâm không gặp ai cả, nó đi đến nhà bà dì nó, vượt qua hàng rào và đứng gần cửa sổ ở tầng trệt còn sáng đèn. Trong căn phòng lớn có dì Polly, Sid, Mary và bà mẹ của Joe đang ngồi nói chuyện. Tom cẩn thận tiến đến gần cửa ra vào, đẩy nhẹ cửa ra rồi bò vào phòng mà không ai thấy. Nó nấp sau một ghế bành lớn. 
- Sao nến chập chờn vậy?... Dì Polly hỏi... Coi kìa, hình như cái cửa tự mở ra đấy! Sid đến đóng lại đi con. 
Bấy giờ cuộc trò chuyện lại tiếp tục, nghe thật mủi lòng: 
- Thằng bé chẳng phải là đứa trẻ hư hỏng đâu, hoàn toàn ngược lại. Tinh nghịch, khinh suất, ma mãnh, quả là có thực, nhưng không hề độc ác, một tấm lòng vàng... Nó không có ác ý khi chọc ghẹo tôi. 
- Giống hệt như thằng Joe tội nghiệp nhà tôi... Bà Harper ngắt lời... Luôn luôn sẵn sàng làm những trò rồ dại, nhưng độc ác thì chẳng hề có chút mảy may. Vậy mà tôi đã quất nó về tội ăn tô kem mà chính tôi đã đổ bỏ vì nó đã trở mùi chua! Không bao giờ tôi tha thứ mình chuyện đó! 
Thế rồi bà òa khóc nức nở. 
- Cháu cầu mong anh Tom sung sướng ở chỗ ở hiện nay... Sid bèn nói với giọng nghiêm trang... Nhưng giá mà anh đã ngoan ngoãn... 
- Sid! Không được nói động một tiếng đến thằng Tom thân yêu của ta! Trong hoàn cảnh như vầy, sao cháu nói vậy được? Đừng sợ, Chúa sẽ lo cho nó vì nó xứng đáng được như thế. Ôi, bà Harper ơi, mất nó rồi biết bao giờ tôi khuây khỏa được. Quả thật nó đã nhiều lần làm tôi điên tiết nhưng nó biết hối lỗi rất chân thành!
- Chúa nhân từ đã cho rồi lấy lại, xin vinh danh Ngài. Nhưng quả thật thế này thì đau lòng quá. Nói để bà hay, chỉ mới thứ bảy vừa rồi, thằng Joe đã đốt một quả pháo dưới tai tôi. Tôi đã bớp vào đầu nó một cái nên thân. Nếu bây giờ nó làm lại chuyện đó, hẳn tôi sẽ ôm hôn nó bà ạ! 
- Còn tôi, khi tôi nghĩ tôi đã đánh thằng Tommie nhà tôi, chỉ vì nó đã cho con mèo uống một muỗng thuốc rượu bé tí tẹo... Như vậy, những lời nói cuối cùng nó nghe ở trần gian này lại là những lời trách cứ la rầy, tội nghiệp thằng nhỏ. Nhưng thôi, tại phương trời nó đang ở, nó không còn đau khổ nữa, thật tình phải nói như thế. 
Lúc này, Tom khóc cũng không kém gì so với cả ba người, dì Polly, Mary và bà Harper họp lại, cảm tưởng cuộc đời ngắn ngủi của nó và sự thiếu cảm thông nó gánh chịu bấy lâu nay.
Phải nhận rằng nỗi buồn phiền và lòng khoan dung của bà dì tốt bụng cũng làm nó cảm động và nó phải tự kiềm chế để khỏi phóng ra khỏi chỗ nấp, ôm lấy cổ bà mà an ủi.

Tiếp tục lắng nghe, Tom còn biết thêm rằng, nếu đêm thứ bảy, các cuộc tìm kiếm vẫn không kết quả thì sáng chủ nhật người ta sẽ cử hành tang lễ. Tom cảm thấy lạnh xương sống và cổ họng như tắc nghẹn lại. 
Đến đây, bà Harper đứng lên từ giã dì Polly ra về. Hai người phụ nữ ôm choàng lấy nhau.
Sid sụt sịt mấy tiếng và Mary thì khóc mùi mẫn, hai đứa lên lầu đi ngủ. Còn lại một mình, dì Polly quỳ gối cầu nguyện cho Tom được cứu rỗi, giọng già nua run run, tràn đầy âu yếm và đau khổ làm Tom cảm thấy lòng bùi ngùi vô hạn. 

Thế rồi, bà đi ngủ. Tom nghe bà rên rỉ, thở dài, nằm lăn qua trở lại trên giường cho đến lúc giấc ngủ thương hại bà và ban cho bà ân huệ được lãng quên.
Bấy giờ, Tom lẻn bò ra khỏi chỗ nấp và đến gần bên bà dì đang ngủ, ngắm nhìn âu yếm khuôn mặt tiều tụy, tội nghiệp của bà. Nó bèn rút trong túi ra mảnh vỏ cây mang tin tức chắc thể nào cũng làm bà yên lòng. Nhưng bỗng trong đầu óc phong phú của nó lại nảy ra một ý khác, một ý nghĩ rất tuyệt vời, vô cùng kinh ngạc! Nó vội vàng bỏ mảnh vỏ cây vào túi lại, đặt một nụ hôn âu yếm lên gò má nhăn nheo của dì nó, lặng lẽ.bước ra và trở lại đảo như lúc nó bỏ đi.



Đêm đã gần tàn. 
Khi về lại nơi đóng trại vào lúc rạng sáng, nó nghe Joe nói: 
- Không đâu, Huck ạ! Tom là đứa trung nghĩa, nó sẽ trở lại, chứ không phải nó đào ngũ đâu. Vả lại, đối với một hải tặc làm vậy thì nhục nhã quá! 
- Dầu sao, những gì nó đã để lại trong mũ của cậu là của chúng ta, phải không? 
- Chưa, nó viết là cái đó sẽ thuộc về chúng ta nếu nó không trở lại vào giờ ăn sáng... Hãy kiên nhẫn! 
Tom chọn ngay lúc đó để xuất hiện. 
- Cúc cu! Tớ trở lại rồi đây. Đố ai đoán được đêm qua tớ ở đâu?
Bị Huck và Joe thúc giục, Tom kể tỉ mỉ chuyến đi của nó. Joe rất cảm động vì được thương tiếc nhiều đến thế. 
Buổi chiều, mỗi đứa trang bị một cây gậy đi tìm trứng rùa. Chỗ nào cây gậy cắm xuống đất dễ dàng là chúng quỳ xuống đào bới và thường bắt gặp khoảng năm mươi cái trứng to bằng hạt hồ đào. Khi nóng quá, chúng chạy ào ngã mình xuống nước. Chúng đầm mình khoái trá, ôm nhau cười và thả mình cho dòng nước cuốn đi một đoạn ngắn, pha trò đùa giỡn. Khi đã mệt, chúng ngã mình xuống bãi cát nóng lăn lộn thỏa thích.
Sau đó, chúng chơi bi, kể chuyện bông đùa và say sưa chơi đủ thứ trò giải trí. 

Rồi đến lúc sự vui chơi nhường chỗ cho sự mơ mộng và buồn bã lúc nào không hay. Tom không thể không nghĩ đến Becky. Nó vạch tên cô bé lên cát, rồi xóa rất nhanh để viết lại liền, Joe thở dài rưng rưng nước mắt: nó thấy nhớ nhà ghê gớm và không thể có ý nghĩ xa gia đình mãi mãi. Ngay Huck cũng không vui và đâm ra tiếc cái thùng phuy hoặc vựa lúa nó dùng làm nơi trú ẩn.
Để đánh tan cảm giác chán nản và quạnh hiu thình lình tràn ngập trong lòng ba đứa, Tom cất giọng vui tươi:

- Này các cậu, nếu có một kho tàng cất giấu trên đảo, bọn mình đi tìm nó chẳng phải là một ý tuyệt vời ư? 
Nhưng lời đề nghị của nó không được hưởng ứng. 
Cuối cùng Joe nói bằng giọng buồn rầu:
- Tớ đề nghị nên chấm dứt trò này đi. Tớ ngán rồi, tớ muốn về nhà. Ở đây bọn mình lẻ loi quá, kéo dài chịu hết nổi. 
- Joe à, cậu hãy nghĩ đến những buổi đi câu đang chờ chúng ta trước mắt chẳng thú vị sao? 
- Tớ chẳng thiết gì đến chuyện đó nữa. Tớ muốn về nhà. 
- Còn vụ đi tắm thì sao? Cậu biết chỗ nào tắm tốt hơn ở đây không hả? 
- Bơi, bơi... Suốt ngày bơi lội tớ chán lắm rồi. 
- Em bé muốn bám váy mẹ rồi phải không nào? 
- Đúng, tớ muốn về cho mẹ tớ yên lòng. Các cậu không biết thế là thế nào đâu. Các cậu đâu còn mẹ! 
- Thế thì được, em bé trở về nhà với mẹ.
Thế mà cũng đòi làm hải tặc! Còn chúng ta là đàn ông, chúng ta sẽ ở lại đây, đúng không hở Huck? 

Huck ừ ừ trong miệng, xem như đồng ý. 
Không một tiếng giã từ, Joe đứng lên, đi về phía doi cát. Tom cảm thấy bị phản bội, lòng nó se lại. Sau vài giây, đến lượt Huck đứng lên. 
- Tớ cũng vậy, tớ muốn đi. Cuộc đi trốn của bọn ta kéo dài đã đủ rồi. Ở đây vắng vẻ quá, nếu gặp tai nạn, ta biết làm sao? 
- Hai đứa bây đi đi, đồ lũ gà ướt. Còn tớ, tớ ở lại. Tớ không ngán. 
- Tom ạ, tớ bảo thật với cậu, cậu cũng nên về là hay hơn. Cậu chớ cứng đầu! Nào về đi! 
- Không bao giờ! 
Huck thở dài rồi đi theo Joe. 
Tom tin tưởng sự cương quyết của nó sẽ làm hai đứa kia suy nghĩ và đổi ý vì quá xấu hổ.
Nhưng khi thấy không được gì, Tom quyết định đánh đòn quyết liệt và đưa ra con bài tẩy. Vừa chạy theo, nó vừa la ơi ới: 

- Khoan đã, các cậu! Tớ nói chưa hết! 
Hai đứa kia dừng phắt lại. Tom báo cho chúng một tin làm chúng trở lại vui vẻ và hăng hái: 
- Mê ly quá! Tuyệt cú mèo! Vậy sao cậu giấu bọn tớ? Nếu vậy thì bọn tớ đâu có bỏ đi! 
Ba đứa trẻ vui vẻ trở lại nơi đóng trại. Ngoài sự kích thích của cái tin bí mật, chúng còn được nhẹ lòng vì có thể chấm dứt sự bất hòa đột xuất và làm lành với nhau. Bữa ăn rất vui, gồm có trứng rùa và cá. 
Sau đó, Tom tỏ ý muốn tập hút thuốc lá, dĩ nhiên là Joe cũng hùa theo. Huck khoét hai cái ống vố và nhồi thuốc. Nằm dài ra đất, ba đứa trẻ bắt đầu rít những hơi dài. Hai kẻ mới lần đầu hút thuốc không nén được ho và hơi xanh mặt. 
- Gớm, hút thuốc đâu có khó gì lắm. Hít..
hà! Giá tớ biết, tớ đã hút sớm rồi, hít... hà! Tom nói. 

- Tớ cũng vậy... Joe tiếp lời... Từ lúc hít...
hà... tớ bắt đầu muốn. 

- Còn tớ, tớ đã cho cậu biết... bao nhiêu lần về cái ý thích này rồi, phải không nào? 
- Tớ thấy tớ có thể hút suốt ngày... Hít... hà... Tớ chẳng thấy buồn nôn chút nào cả.
- Này, tớ muốn thấy tụi bạn của mình hút xem thử sao! Tớ đoan chắc... hít... hà... bọn chúng hút một hơi đầu là quay mòng mòng ngay thôi! 
- Chắc vậy rồi! Và khi bọn ta nói cho chúng biết... hít... hà... bọn ta đã tập hút thuốc khi làm hải tặc, chúng nó sẽ hối hận không đi theo bọn ta cho mà xem! 
Câu chuyện về đề tài này tiếp tục chỉ được một lúc, sau đó tắt nghỉm. Hai kẻ mới tập tành lúc này đã hơi xanh mặt và không ngăn được nôn ọe. Không chịu nổi được nữa, Joe đứng dậy, hai chân lảo đảo.
- Tớ nghĩ... tớ đã đánh mất con dao nhíp của tớ. Tớ đi... tìm nó mới được. Nó cất tiếng yếu ớt. 
- Chờ chút, tớ sẽ... giúp cậu... Tom thều thào nói... Cậu chỉ việc đi ngả kia, còn tớ... đi ngả này... Huck đừng bận tâm,... cậu không đi cũng được! 
Và hai đứa khốn khổ đi tìm chỗ riêng để giải uế. 
Buổi tối, sau khi ăn xong, Huck nhồi tẩu của mình và ngỏ ý chuẩn bị hai tẩu khác. Joe và Tom lịch sự từ chối viện lý do cảm thấy đầy bụng và không được khỏe lắm. 
Khoảng nửa đêm, Joe thức giấc. Không khí nặng nề khó thở. Nó khẽ đánh thức hai bạn dậy. 
Và tiếp theo một ánh sáng chợt lóe làm tàn lá cây hiện rõ trong giây lát; rồi ánh sáng thứ hai, ánh sáng thứ ba lóe mạnh hơn. Gió mát nhẹ nổi lên. Lần này, một ánh chớp chói lọi soi cảnh vật rõ mồn một, trong khi một tiếng sấm làm điếc tai các đứa bé đang hoảng hốt. Bây giờ gió lạnh thổi tới làm lá vàng rụng bay tơi tả và tro bếp tung tóe. Một tia chớp nữa ngoằn ngoèo xẹt qua bầu trời trong khi một tiếng động răng rắc nổi lên phía trên đầu, bọn trẻ lâm nạn chết điếng người vì kinh hoàng. Thiên nhiên nổi cơn cuồng nộ. 
Khi các giọt nước đầu tiên bắt đầu rơi xuống, Tom bình tĩnh lại và hét lớn: 
- Nhanh lên, chạy về lều! 
Bây giờ chớp lóe liên hồi, sấm vang không ngớt. Gió thổi từng cơn dữ dội, mưa như thác đổ ập xuống khu rừng đang rung chuyển tận gốc rễ. Chúng chạy vấp lên rễ cây, vướng vào dây leo, lảo đảo va vào đó, cuối cùng chúng đến được tấm vải buồm căng thành lều che đậy lương thực, đứt hết cả hơi, ướt như chuột lột và run cầm cập. Bão thổi mạnh hơn nữa. Những tiếng sấm kinh hồn xé tai nhức óc. Hòn đảo tưởng chừng như rũ ra, sắp bị chìm vào dòng sông. Gió quật tung tấm buồm và bọn trẻ hoảng sợ bám vào nhau rồi cuối cùng tìm được chỗ trú dưới một cây sồi lớn gần bên sông. Đêm ác mộng tưởng chừng như không bao giờ chấm dứt. 
Sau đó, dần dần gió giảm nhẹ và chớp thưa bớt. Giông bão lắng dịu và thanh bình trở lại với cảnh vật xác xơ. Vẫn còn run lẩy bẩy, chân đi loạng choạng chưa kể đến những vết đứt, vết trầy và bầm tím làm chúng đau điếng, bọn trẻ gặp nạn trở về chỗ dựng trại. Cây sung to trước đó chúng ngủ vô tư dưới gốc bây giờ đã bị sét đánh,.nằm sóng soài trên mặt đất. 
Ưu tiên số một bây giờ là nhóm lại bếp lửa, mà nhờ nằm khuất dưới một gốc cây tán lá dày rậm, vẫn còn âm ỉ dưới lớp tro. Bọn trẻ lạnh cóng, áo quần nước chảy ròng ròng. Răng đánh cầm cập, bọn chúng đi kiếm những cành nhỏ và vỏ cây ít nhiều khô ráo. Sau một giờ tìm kiếm kiên nhẫn, chúng nhóm lại được bếp lửa, khiến tinh thần sa sút của chúng vững hơn lên rất nhiều. Chúng hong khô và nướng phần thịt muối còn lại, ăn ngon lành và ngồi nói chuyện cho đến sáng, bởi vì mặt đất ướt đẫm không cách gì ngả lưng được. 
Cuối cùng, tảng sáng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên vờn trên gò má của chúng, bọn trẻ mệt lả nằm dài trên doi cát đánh vùi một giấc. 
Giữa trưa trời nắng nóng, lúc đó chúng mới thức dậy. Tê cóng, ê ẩm cả người và da thịt đau rát, chúng đờ đẫn và rũ rượi. Nỗi nhớ nhà lại bắt đầu chớm dậy. Để làm các bạn khuây khỏa, Tom nhắc chúng hạnh vận đang chờ chúng nếu chúng kiên trì cho đến ngày chủ nhật và đề nghị làm dân da đỏ thay cho hải tặc. Chúng vui vẻ với ý tưởng đó: sau khi cởi quần áo, chúng bôi bùn vằn vện khắp mình rồi đi tấn công ngay trại của người da trắng. Kể đến, đóng vai các bộ tộc thù địch, chúng xông vào nhau, la hét man dại, xẻo da cấu thịt nhau, lột đầu, giết nhau bằng thích. 
Buổi chiều tàn sát đó để lại cho chúng một kỷ niệm rất đáng nhớ. Chỉ có tẩu thuốc hút chung giữa hai thủ lãnh để ký kết một nền hòa bình vững bền là thứ làm hai đứa trong bọn chúng nấn ná thấy ngại. Nhưng rồi, lần này xem ra đã quen, chúng chuyền tẩu cho nhau hút phì phèo, không quên trò chuyện khoác lác. 
Chúng đã trở thành những kẻ đàn ông, đàn ông thực sự! Ghê gớm thật!.

Hết chương 6
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close
This is the lightbox content. Close